Top 10 Loài thủy quái đáng sợ nhất thời tiền sử


Dunkleosteus

Dunkleosteus là loài động vật này có vỏ giáp bảo vệ đầu dày tới 5 cm. Thật sự thì Dunkleosteus không có cái răng nào cả mà thay vào đó là các miếng xương lớn sắc như dao thay thế cho những chiếc răng. Các miếng xương này gập sát vào nhau khi khép hàm, trông như là một lưỡi kéo giúp nó phá vỡ vỏ giáp của các loài cá khác một cách dễ dàng. Lực cắn của Dunkleosteus lên tới 4 tấn, nó có thể mở miệng với tốc độ chỉ trong 1/5 giây, tạo ra một lực hút hút con mồi xung quanh vào trong miệng. Tuy nhiên việc di chuyển chậm chạp do chiếc áo giáp của nó tạo lực cản nước rất lớn khiến nó không thể nào mà bơi nhanh hơn cho được được chính là điểm yếu của loài động vật này. Bên cạnh đó phần sau của Dunkleosteus không được bọc giáp nên khi bị tấn công từ phía sau sẽ gây bất lợi cho loài động vật này. Với thân hình to lớn của mình cùng với những miếng xương thay thế cho răng của mình, loài động vật này có thể nghiền nát con mồi của mình một cách nhanh chóng.

Trong lòng đại dương hàng trăm triệu năm trước, có một loài cá ăn thịt với răng nanh và hộp sọ khổng lồ, chúng là Dunkleosteus. Với thân hình mập mạp và hình dáng hung dữ, loài cá của kỷ Devon này xứng đáng với biệt danh “kẻ hủy diệt” thời kỳ cổ đại. Vào nửa sau thế kỷ 19, nhân loại bắt đầu phát hiện được một số lượng lớn hóa thạch của nhiều loài sinh vật cổ đại khác nhau, ngành cổ sinh vật học ở Hoa Kỳ bắt đầu phát triển. Nhiều hóa thạch kỳ lạ đã được tìm thấy ở Tennessee và Wyoming. Năm 1868, John Newberry dựa theo hóa thạch hộp sọ và hàm dưới (AMNH 81) để thành lập chi khủng ngư Dinichthys, với loài cá điển hình là Dinichthys herzeri. Trong một thời gian dài sau khi chi Dinichthys được đặt tên, hầu hết tất cả các loài cá cổ đại khổng lồ được tìm thấy ở Bắc Mỹ đều được phân loại vào trong chi này và chi khủng ngư được giới khoa học coi như một “bãi rác” trong ngành phân loại động vật.

Dunkleosteus

Dunkleosteus

Dunkleosteus

Dunkleosteus

Shastasaurus

Shastasaurus hay còn được gọi là thằn lằn cá. Đây là loài ăn thịt biển trông khá là giống cá voi hiện nay. Shastasaurus có thể cao tới 20 mét, dài hơn bất cứ loài động vật ăn thịt nào, cách đây hơn 200 triệu năm vào kỷ Trias. Cá là thức ăn chủ yếu của nó. Với chiếc mỏ dài và nhọn khiến cho ta có cảm giác sợ hãi. Thằn lằn cá là một trong 10 thủy quái đáng sợ nhất thời tiền sử? Không ai có thể ngờ mức độ hung hãn và đáng sợ của loài thằn lằn cá đã từng sống vào kỷ Trias. Chỉ cần nhìn thấy hình dáng bên ngoài của nó thôi là đã thấy sợ rồi, giả sử chúng còn tồn tại ở thời điểm này thì quả sẽ trở thành mối lo ngại cho cả các sinh vật biển cũng như đối với con người.

Shastasaurus rất chuyên biệt và khác biệt đáng kể so với các loài ichthyosaurs khác. Nó rất mảnh mai trong hồ sơ, các mẫu vật lớn nhất có lồng ngực sâu dưới 2 mét mặc dù khoảng cách giữa các chân chèo của nó là hơn 7 mét. Do mõm ngắn bất thường, không có răng, người ta đề xuất rằng Shastasaurus được cho là một loài hút thức ăn, chủ yếu ăn các loài cephalopods thân mềm, mặc dù nghiên cứu hiện tại chỉ ra rằng hàm ichthyosaur không phù hợp với cấu hình hút sữa. Ở S. liangae, loài duy nhất có một số hộp sọ được bảo quản tốt, hộp sọ chỉ chiếm 8,3% tổng chiều dài cơ thể. Không giống như những loài Shonisaurus có liên quan, ngay cả những con Shastasaurus chưa trưởng thành cũng hoàn toàn không có răng. Mõm được nén nhiều nhờ sự sắp xếp độc đáo của các xương sọ.

Shastasaurus

Shastasaurus

Shastasaurus

Shastasaurus

Elasmosaurus

Elasmosaurus có chiều dài lên tới 14 mét, nặng tới 2,2 tấn, đây cũng chính là lí do khiến nó trở thành một trong những Plesiosaurs lớn nhất. Loài thủy quái sống trong thời tiền sử này khác với tất cả Plesiosaurs – bộ bó sát lớn ăn thịt khác bởi nó có 71 cổ đốt sống và sáu chiếc răng ở mỗi premaxilla (xương ở đầu mõm). Hộp sọ của Elasmosaurus tương đối bằng phẳng, bên cạnh đó nó còn có một số răng dài, nhọn. Đốt sống cổ ngay sau hộp sọ dài và thấp, và có đỉnh bên theo chiều dọc. Nhìn hình ảnh của nó, một số người sẽ liên tưởng đến chú “khủng long lạc loài” – một loài khủng long cổ dài sống ở Nhật Bản thời tiền sử được đề cập trong cuốn truyện Doraemon. Thủy quái “cổ dài” này sống cách đây khoảng 80,5 triệu năm trước, vào cuối kỷ Phấn Trắng được cho là một trong những thủy quái đáng sợ nhất thời tiền sử.

Đầu của loài này trông khá giống đầu của cá sấu, với hàng trăm chiếc răng sắc nhọn, chính vì thế lực cắn của chúng vô cùng khủng khiếp, có thể tiêu diệt được cả những kẻ thù được bảo vệ kỹ lưỡng nhất. Nếu như Tylosaurus chỉ dài tối đa khoảng 15 mét thì Elasmosaurus dài tối đa tới 18 mét và nặng gấp đôi tổ tiên của chúng. Tốc độ của chúng có thể thua kém đôi chút với Tylosaurus nhưng sức mạnh thì tuyệt đối vượt trội. Hộp sọ của Elasmosaurus không có chỏm xương cứng ngay trước mũi giống như Tylosaurus, đổi lại nó được cấu tạo chắc chắn hơn so với Tylosaurus, hàm dưới của Elasmosaurus được kết nối chặt chẽ với lại hộp sọ và hộp sọ của Elasmosaurus cũng rộng hơn.

Elasmosaurus

Elasmosaurus

Elasmosaurus

Elasmosaurus

Kronosaurus

Thủy quái Kronosaurus sống vào giữa kỷ Cretaceous. Chúng có chiều dài tối đa là 10 mét nặng tới gần 7 tấn, được mệnh danh là loài động vật săn mồi tối cao vào thời điểm đó. Kronosaurus có cái đầu lớn, hàm răng khỏe cùng những chiếc răng có thể dài đến 7cm đặc biệt là chiếc lớn nhất có thể dài tới 30cm. Mặc dù không to lớn và mạnh bằng một số loài động vật thuộc nhánh bò sát biển xuất hiện từ kỷ Jura và kỷ Phấn trắng. Tuy nhiên cũng chính nhờ kích thước nhỏ hơn đã giúp nó bơi nhanh hơn, nhanh nhẹn hơn, trở thành sát thủ săn mồi đáng sợ thời thời tiền sử. Nhìn cái miệng lớn, có răng sắc nhọn của chúng cùng với kích thước cũng thuộc vào loại “khủng” như vậy đã khiến cho loài vật này trở nên đáng sợ hơn trong mắt của mọi người.

Thủy quái Kronosaurus sống cách ngày nay khoảng 28 triệu năm. Chúng được xem là loài động vật ăn thịt to lớn nhất trong lịch sử. Do đó, chúng được xem là loài thủy quái lớn nhất trong đại dương và lớn nhất so với các loài đã được chứng minh là từng tồn tại. Chúng sở hữu bộ răng mạnh mẽ, có tổng cộng khoảng 276 chiếc, có chiếc dài tới 30 cm. Tuy có thân hình to lớn nhưng nhờ những cấu tạo vật lý của cơ thể nên chúng có thể di chuyển với vận tốc lên đến 70 km/h, sự linh hoạt của đuôi khiến chúng dễ dàng bắt được những con mồi có tốc độ di chuyển nhanh nhất. Các nhà khoa học nghiên cứu rằng chúng có lực cắn lên đến 8 tấn, lớn hơn rất nhiều so với loài khủng long bạo chúa T-rex. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và cho thấy rằng loài này có cách săn mồi khá chiến thuật, chúng sẽ cắn đứt vây để con mồi không thể bơi lội.

Thủy quái Kronosaurus

Thủy quái Kronosaurus

Thủy quái Kronosaurus

Thủy quái Kronosaurus

Vua bò sát Basilosaurus

Basilosaurus danh pháp khoa học còn gọi là Zeuglodon, biệt danh Vua bò sát, là một loài thuộc một chi cá voi. Các dấu tích hóa thạch của nó lần đầu tiên được phát hiện ở miền nam Hoa Kỳ và ban đầu được coi là thuộc về một loại quái vật biển dạng bò sát nào đó, vì thế mà trong tên gọi khoa học người ta đã thêm vào hậu tố “saurus” (nghĩa là thằn lằn), nhưng sau đó người ta thấy điều này không đúng. Các hóa thạch từ ít nhất là hai loài khác của đơn vị phân loại này được tìm thấy ở Ai Cập và Pakistan. Basilosaurus trung bình dài khoảng 18m và được coi là các động vật lớn nhất đã sống trong thời đại của chúng. Nó biểu lộ một mức độ thuôn dài vô song so với cá voi hiện đại. Các chi sau dạng dấu vết rất nhỏ của chúng cũng thu hút sự quan tâm của các nhà cổ sinh vật học. Loài này là hóa thạch bang của các bang Mississippi và Alabama tại Hoa Kỳ.

Vua bò sát Basilosaurus là một loài thuộc một chi cá voi sống từ 40 tới 34 triệu năm trước trong thế Eocen muộn. Người ta đã phát hiện ra các dấu tích hóa thạch của nó lần đầu tiên ở miền nam Hoa Kỳ – bang Louisiana. Ngay từ lúc đầu nó được coi là thuộc về một loại bò sát biển nào đó, phải chăng vì thế mà trong tên gọi khoa học người ta đã thêm vào hậu tố thằn lằn – “saurus” cho nó nhưng sau đó người ta thấy điều này không đúng. Các hóa thạch từ ít nhất là hai loài khác được tìm thấy ở Pakistan và Ấn Độ. Basilosaurus có chiều dài trung bình là 18 mét, được đánh giá là một trong những loài động vật lớn nhất đã sống trong thời đại lúc bấy giờ. Với thân hình to lớn, trông bề ngoài nó trông có chút gì đó giống với một con cá mập khổng lồ. Trông thật đáng sợ, hung hãn quá đi!

Vua bò sát Basilosaurus

Vua bò sát Basilosaurus

Vua bò sát Basilosaurus

Vua bò sát Basilosaurus

Cretoxyrhina

Cretoxyrhina là một thành viên thuộc họ cá mập đã bị tuyệt chủng. Theo ước tính, loài thủy quái này dài tới 7 mét. Cretoxyrhina phải chăng là động vật ăn thịt nhỏ nhất trong danh sách này? Tuy nhiên với chiều dài 7 mét thì vẫn đủ để chứng tỏ sức mạnh ghê gớm của loài thủy quái này rồi. Hung hãn và đáng sợ lắm nhé. Cretoxyrhina sẽ tấn công bất cứ loài vật nào nếu như chúng nhỏ hơn kích thước của nó, ngay cả những con rùa lớn cũng như là loài bò sát biển như Mosasaurs. Ước tính từ những mẫu hóa thạch phát hiện được, loài cá mập Cretoxyrhina có thể dài tới 7 mét và nặng khoảng 3,5 tấn, lớn hơn cả loài cá mập trắng lớn lớn nhất hiện nay. Có thể nói, loài cá mập Cretoxyrhina và cá mập trắng lớn hiện đại được coi là họ hàng xa của nhau, tuy nhiên giữa chúng không có mối quan hệ tiến hóa trực tiếp nhưng chúng thuộc cùng một bộ.

Loài cá mập tiền sử Cretoxyrhina được cho là có vẻ ngoài tương tự như loài cá mập mako hiện đại, với cơ thể thuôn dài có thể giảm lực cản trong nước. Cá mập Cretoxyrhina sở hữu một cái đầu khổng lồ với đôi mắt to đen láy, đằng sau miệng là một dãy mang xếp dọc, vây lưng hình tam giác và vây ngực dài ở hai bên thân. Ngoài ra chúng còn sở hữu một cái đuôi lớn hình lưỡi liềm. Điều đáng sợ nhất của cá mập Cretoxyrhina là cái miệng khổng lồ đầy răng của nó. Bên trong khoang miệng của chúng là 7 hàng răng sắc nhọn ở mỗi hàm. Mỗi hàng răng bao gồm 34 đến 36 răng với tổng số hơn 500 chiếc răng cùng nhau tồn tại trong khoang miệng. Hàm răng của Cretoxyrhina dài nhọn, có cạnh sắc nhưng không có cấu trúc răng cưa, răng của chúng có độ dài trung bình hơn 6 cm, tương đương với chiều dài ngón tay út của chúng ta. Với hàm răng đáng sợ như vậy, loài cá mập này hoàn toàn thích hợp để săn những con mồi lớn như các loài bò sát biển.

Cretoxyrhina

Cretoxyrhina

Cretoxyrhina

Cretoxyrhina

Predator X – Pliosaurus

Predator X – Pliosaurs sở hữu hộp sọ dài đến 3 mét, răng dài 30cm Predator X có lực cắn lên đến 15 tấn gấp 4 lần so với Trex. Predator X – loài vật có lực cắn mạnh nhất trong lịch sử, nó sử dụng hai chiếc vây trước để bơi với vận tốc tối đa là 18km/h (5m/s) so với các loài động vật bơi bằng đuôi có cùng kích thước khác. Điểm yếu mà Predator X – Pliosaurs nắm giữ chính là sự chậm chạp của bản thân nó, chưa được nhanh nhẹn cho lắm. Với hai hàm răng sắc, nhọn, trọng lượng cơ thể lớn, loài thủy quái này đã trở thành thủy quái đáng sợ nhất thời tiền sử.

Pliosaurus là một chi Plesiosauria sống vào thời kỳ tầng Kimmeridge và tầng Tithon (Jura muộn) tại nơi ngày nay là châu Âu và Nam Mỹ. Chế độ ăn của chúng gồm cá, động vật chân đầu, và bò sát biển. Chi này trong quá khứ gồm nhiều loài nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có sáu loài hợp lệ. Pliosaurus hiện gồm loài điển hình P. brachydeirus, cùng với P. brachyspondylus, P. carpenteri, P. funkei, P. kevani, P. macromerus, P. rossicus và P. westburyensis, và loài bị nghi ngờ P. portentificus. Đa số các loài Pliosaurus đáng chú ý ở kích thước cơ thể lớn của chúng, tuy chỉ những cá thể chưa trưởng thành của P. brachydeirus, P. brachyspondylus và P. portentificus được biết đến.

Predator X - Pliosaurs

Predator X – Pliosaurs

Predator X - Pliosaurs

Predator X – Pliosaurs

Livyatan melvillei

Livyatan melvillei hay còn gọi là siêu cá nhà táng một thành viên đã tuyệt chủng của bộ cá voi có răng thời tiền sử và được xem là loài cá voi có răng to lớn nhất từng biết. Chúng có thể sống cách đây 13,6 đến 11,6 triệu năm. Những chiếc răng khổng lồ và kích thước cơ thể to lớn của loài cá voi này sẽ khiến nhiều người phải kinh hãi khi gặp chúng ở đại dương. Melvillei cùng với Megalodon trở thành hai loài săn mồi đỉnh cao, là đối thủ của nhau ở đại dương thời kỳ đó. Một là loài cá ăn thịt lớn nhất (Megalodon), hai là loài thú có vú săn mồi lớn nhất (L. Melvillei). Các nhà nghiên cứu đã đặt tên cho loài này là Livyatan Melvillei. “Livyatan” là phiên âm của Leviathan, loài thủy quái khổng lồ trong thần thoại, còn “Melvillei” là dựa theo tên của nhà văn Herman Melville – tác giả cuốn tiểu thuyết Moby Dick nổi tiếng viết về một con cá voi to lớn, hung dữ và có sức mạnh khủng khiếp, được các tàu săn cá voi xem là chúa tể của đại dương.

Chiều dài của loài cá nhà táng khổng lồ cổ đại này dài khoảng 13,5 m đến 17,5m, hiện vẫn chưa biết được cân nặng của nó nhưng ước tính là khoảng 40 tới 70 tấn. Melvillei sở hữu xương sọ dài 3 mét với hàm rộng và những chiếc răng nhọn hình nón dài tới 36cm – chiếc răng lớn nhất trong tất cả những loài động vật từng được biết đến (trừ ngà voi). Đồng thời các răng hàm trên còn có phần lõm giúp khít sát với răng hàm dưới khi khép miệng làm tăng khả năng cắt thịt. Với kích thước to lớn và việc Livyatan melvillei cùng sống chung trong một vùng với siêu cá mập Carcharodon megalodon thì việc 2 loài này có va chạm với những trận đấu nảy lửa là điều khó tránh khỏi. Về kích thước thì 2 loài tương đương nhau, nhưng Livyatan có một ưu thế quan trọng: Loài này có thể săn mồi theo đàn trong khi Megalodon sống đơn độc, do vậy nếu xảy ra giao chiến thì một con Megalodon sẽ phải đấu với nhiều con Livyatan cùng một lúc, khi đó việc Megalodon bị thất bại là điều chắc chắn.

Livyatan melvillei

Livyatan melvillei

Livyatan melvillei

Livyatan melvillei

Thằn lằn biển Tylosaurus

Tylosaurus là một loài thằn lằn biển Tylosaurus, một thằn lằn biển ăn thịt lớn liên quan chặt chẽ với thằn lằn hiện đại và rắn. Đây có lẽ là một trong những thương long lớn nhất thế giới. Mặc dù chỉ nặng có 10 tấn nhẹ cân hơn nhiều so với đa số các loài quái vật biển khác. nhưng chính trọng lượng nhỏ của nó đã làm nên sự khác biệt.Thằn lằn biển Tylosaurus quả là rất nhanh, nó có thể bơi với tốc độ lên tới 50km/h và nhờ vào thân hình thuôn dài nên nó trở nên nhanh nhẹn hơn. Dù cho nó có hàm lớn và răng khỏe nhưng đó chưa phải là vũ khí chính của Tylosaurus như những gì ta nhìn thấy ở trên phim ảnh. Một phần xương nhô ra ngay trước mõm – phần xương này được gia cố chắc chắn làm cho Tylosaurus rất khỏe. Do đó, loài thủy quái này sử dụng trọng lượng nặng 10 tấn – tương đương với một chiếc xe tải, tốc độ 50km/h cùng với chỏm xương cứng ngay trước mõm để đâm đối thủ của mình.

Tylosaurus là một con Mosasaur, là một loài bò sát biển săn mồi lớn, có quan hệ gần gũi với thằn lằn theo dõi hiện đại và rắn, xuất hiện từ kỷ Phấn trắng muộn… Hóa thạch của một loài thằn lằn biển thời tiền sử đã tình cờ được tìm thấy vào tháng trước bởi những người thợ khai thác đá quý tại khu vực Bearpaw, một thành hệ địa chất ở tỉnh Alberta, miền tây Canada. Bộ xương dài 7 m, gần như hoàn chỉnh, nhiều khả năng thuộc về một con Tylosaurus trong họ Thương long (Mosasaur) sinh sống trên Trái Đất cách đây 70 triệu năm. Hóa thạch được lưu giữ bên trong các phiến đá bùn màu đen, loại đá trầm tích hạt mịn có thành phần là sét hay bùn. Donald Henderson, người phụ trách nhóm khảo cổ từ Bảo tàng Hoàng gia Tyrrell, cho biết địa điểm phát hiện hóa thạch trước đây từng nằm dưới đại dương, thuộc vùng biển Western Interior kéo dài từ vịnh Mexico đến biển Bắc Cực.

Tylosaurus

Tylosaurus

Tylosaurus

Tylosaurus

Cá mập Megalodon

Siêu cá mập Megalodon là một loài cá mập sống cách nay khoảng 15,9 tới 2,6 triệu năm, vào thời kỳ Đại Tân Sinh đã tuyệt chủng. Trong gần một thế kỷ, người ta vẫn chưa thống nhất được việc phân loại cho cá mập Megalodon. Hai phân loại phổ biến là Carcharocles Megalodon (thuộc họ Otodontidae) và Carcharodon Megalodon (thuộc họ Lamnidae). Loài thủy quái này được xem là một trong những động vật có xương sống lớn mạnh nhất trong lịch sử tự nhiên và có lẽ từng có tác động lớn đến cấu trúc của đời sống đại dương. Từ việc nghiên cứu hóa thạch của chúng cho thấy loài cá mập khổng lồ này có thể chiều dài tới 18 mét và phân bố ở toàn cầu. Siêu cá mập Megalodon nếu vẫn còn tồn tại đến tận bây giờ thì chắc hẳn nó sẽ trở thành nỗi kinh hoàng cho rất nhiều người, hạm đội cũng như các hàm không mẫu hạm.

Hóa thạch chủ yếu của megalodon là răng và cột sống. Giống mọi loài cá mập, bộ xương megalodon được cấu tạo từ sụn chứ không phải xương thông thường; điều này làm các mẫu vật bị bảo quản rất tệ. Dù những dấu vết cổ nhất của megalodon có niên đại từ các địa tầng thế Oligocen muộn, khoảng 28 triệu năm trước, thường thì người ta cho rằng loài này bắt đầu xuất hiện vào thế Miocen giữa, chừng 15.9 triệu năm trước. Mặc dù các địa tầng kéo dài khỏi biên giới Phân đại Đệ Tam thường thiếu vắng hóa thạch megalodon, nhưng chúng đã được báo cáo có mặt trong các địa tàng thế Pleistocen sau đó. Megalodon tuyệt chủng vào cuối thế Pliocen, có thể khoảng 2.6 triệu năm trước, răng megalodon thời kỳ sau Pliocen được cho là hóa thạch giả. Megalodon có phạm vi phân bố toàn cầu, hóa thạch được khai quật tại nhiều nơi trên thế giới, gồm châu Âu, châu Phi, cả Bắc và Nam Mỹ, cũng như Puerto Rico, Cuba, Jamaica, quần đảo Canary, Úc, New Zealand, Nhật Bản, Malta, Grenadines và Ấn Độ. Răng megalodon đã được tìm thấy tại các vùng đất rất xa bờ, như rãnh Mariana ở Thái Bình Dương.

Siêu cá mập Megalodon

Siêu cá mập Megalodon

Siêu cá mập Megalodon

Siêu cá mập Megalodon

Bài viết liên quan

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x